Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016
Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016
Ý NGHĨA CỦA NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM
Hôm nay nhân kỷ niệm năm thứ 10 ngày thành lập hội và cũng là ngày kỷ niệm 68 năm ngày Liên Hiệp Quốc công bố bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền 10-12-1948, tuyên dương lý tưởng nhân bản cao đẹp của nhân loại, một khuôn mẫư chung mà tất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia phải thực hiện như sau: “ Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền sống làm người, quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng… để mọi người không còn nghèo khó và sợ hãi bạo quyền, nhân quyền phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người”.
Thưa quý vị, bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền được ra đời do công trình của 40 tổ chức phi chính phủ ở Hoa Kỳ và các tấm lòng nhân hậu thể hiện lương tri của nhân loại đặc biệt là phu nhân của cố Tổng Thống HK Roosevelt quyết không để cho nhân loại bị nghiến nát dưới gót sắt độc tài phát xít như cuộc Thế chiến II. Bản tuyên ngôn cũng là sự kết hợp tính nhân đạo thuộc nhiều nền văn minh trên thế giới, từ ý niệm về nhân phẩm của phương Đông đến các quyền con người, quyền công dân được đúc kết từ các bản Tuyên ngôn trước đó như : Habeas corpus của Anh quốc năm 1679, Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789 và 1793). Bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền gồm 30 điều được dịch ra 375 ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế giới. Sau khi công bố bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, hai Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa và Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị cùng hai Nghị Định Thư không bắt buộc I và II đã được Liên hiệp Quốc thông qua năm 1966 để hoàn tất Bộ Luật Nhân Quyền Quốc Tế, biểu trưng cho nền văn minh của nhân loại.
Trong số 50 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thời ấy, 40 quốc gia bỏ phiếu thuận, 8 quốc gia bỏ phiếu trắng và 2 nước vắng mặt là Honduras và Yemen. 8 nước bỏ phiếu trắng gồm có 6 nước Cộng sản, Arabie saoudite và Nam Phi. Cả thế giới không ngạc nhiên gì vì 2 nước Arabie Saoudite và Nam Phi bỏ phiếu trắng vì Arabie Saoudite đang duy trì chế độ đa thê, Nam Phi thì đang do người da trắng cai trị với chủ trương phân biệt chủng tộc, còn 6 nước CS bỏ phiếu trắng lại càng dễ hiểu hơn nữa vì nếu các quốc gia CS mà bỏ phiếu thuận nghĩa là phải tôn trọng các quyền tự do căn bản cũng như tôn trọng nhân phẩm của con người… thì làm sao thống trị được nhân dân. Nói một cách khác thì làm gì còn chế độ CS nữa.
Ngày nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba nhưng chỉ còn vài ba nước CS trong đó có nhà nước CSVN vẫn không tôn trọng nhân quyền và dân quyền. Họ cho rằng không thể áp đặt quan niệm phương Tây vào những hoàn cảnh điều kiện khác nhau của mỗi nước, họ cho rằng quyền độc lập dân tộc là quyền cao nhất nhưng chính những đảng viên CS lão thành đã thức tỉnh, uất thốt lên “Có độc lập mà không có tự do” thì độc lập làm gì? Trên thực tế cái mà người CS gọi là độc lập chỉ là chiêu bài ru ngủ quần chúng.
Lịch sử chứng minh rằng CSVN đã lợi dụng danh nghĩa kháng chiến giành độc lập để bành trướng chủ nghĩa CS, “độc lập” để “Nội thuộc” bành trướng Bắc Kinh mà thôi. Nhân loại văn minh đều tôn trọng giá trị nhân bản có tính phổ quát vì khi một người sinh ra thì họ đã là một người nên phải được hưởng đầy đủ những quyền căn bản của một con người, sau đó mới tới người đó sinh ra ở quốc gia nào và theo tôn giáo nào…
Thưa quý vị,
Cho đến ngày nay mà nhà nước CHXHCNVN vẫn rêu rao là một nhà nước pháp quyền, có cả một rừng luật nên họ áp dụng luật rừng, luật giang hồ, luật xã hội đen đối với đồng bào yêu nước ngay trong thời đại văn minh này. Sở dĩ chế độ CSVN phải dùng bộ máy công an đàn áp nhân dân không phải họ mạnh mà vì họ đang suy yếu dần, sự tồn tại của chế độ chỉ còn tính theo từng ngày từng tháng nên họ sợ nhân dân sẽ đứng lên lật đổ bạo quyền nên phải trấn áp để duy trì quyền lực để chia chác quyền lợi cho phe đảng mà nhân dân gọi là tập đoàn tư bản đỏ, mafia đỏ…
Như chúng ta đã biết, sau khi xé bỏ hiệp định Paris đem quân xâm chiếm miền Nam, chế độ CS đã bắt các sĩ quan công chức chế độ VNCH đi “Học tập Cải Tạo” để trả thù quân cán chánh miền Nam. Hàng chục ngàn tù nhân “cải tạo” ốm đau đói khát đã chết trong các trại tù khắc nghiệt của CS vì bị trả thù hành hạ. Trên 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử trong đó có 2 linh mục và 2 phụ nữ. Đặc biệt chị Trần Thị Lan bị Việt gian Cộng sản xử tử hình tại sân vận động Gò Công năm 1976 trong lúc chị đang có thai 8 tháng đúng vào ngày Rằm tháng bảy, ngày lễ Vu Lan “Xá tội vong nhân”. Hành động tàn ác dã man này của chế độ CSVN đã vi phạm trầm trọng vào điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự chính Trị. Đây là một tội ác “Trời không dung, đất chẳng tha, Thần người đều căm hận” không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn là một tội ác đối với cả nhân loại.
Đã ác với dân, tập đoàn Việt gian CS lại hèn với giặc, cam tâm dâng đất nhường biển cho quan thầy Trung Cộng. Bè lũ “Thái thú xác Việt hồn Tầu” này lại thẳng tay trấn áp, đánh đập, bỏ tù những đồng bào, thanh niên sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ yêu nước xuống đường biểu tình chống Trung Quốc.
Chính vì vậy, NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM được tổ chức để tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh trong công cuộc đấu tranh giành tự do dân chủ, đồng thời vinh danh những chiến sĩ dân chủ, những tù nhân lương tâm của Việt Nam đang dũng cảm đấu tranh giành dân chủ tự do, đấu tranh chống kẻ nội thù “Việt gian bán nước” và chống giặc ngoại xâm Trung Cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Thưa quý vị,
Hôm nay chúng ta tổ chức "Ngày Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam" chính là để để vinh danh những tù nhân chính trị, Tôn giáo đã đứng lên đấu tranh cho tự do, dân chủ sau ngày mất nước 30-4-1975. Chúng ta cùng tưởng niệm hơn 300 tù nhân chính trị và Tôn giáo Việt Nam, những anh hùng dân tộc đã bị chế độ CS bất nhân, buôn dân bán nước đem ra pháp trường xử tử. Thưa quý vị, Ngày Tù nhân Lương tâm Việt nam đã được sự ủng hộ nhiệt tình của 109 Hội đoàn, Đoàn thể trong nước và Hải ngoại cho “Ngày Tù Nhân Lương tâm Việt Nam” nên Quốc Hội Tiểu Bang California đã vinh danh “NGÀY TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM” đúng vào ngày “Quốc Tế Nhân Quyền” 10-12 hàng năm.
Chúng ta sẽ vận động công luận quốc tế yểm trợ hữu hiệu hơn cho công cuộc đấu tranh dân chủ nhằm giải thể chế độ CS bạo tàn, bất nhân Hại dân bán nước. Trong tương lai không xa, khi chế độ CS xụp đổ, chúng ta sẽ chọn ngày này là một ngày "Quốc Lễ" để tưởng niệm, Tri ân những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho lý tưởng Tự do. Chúng ta sẽ đi bốc mộ những anh em đã chết trong các trại tù đem về nghĩa trang quốc gia nên ngày này, cũng chính là ngày giỗ của những chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì lý tưởng tự do trong cuộc chiến, những đồng bào đã mất tích trên đường tìm tự do ...
Thưa quý vị,
Trong không khí trang nghiêm này, chúng ta cùng thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân những anh hùng dân tộc, vinh danh những chiến sĩ dân chủ, giới nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các thanh niên sinh viên yêu nước và nhất là đồng bào Dân Oan trên toàn quốc đang xuống đường đấu tranh đòi dân chủ tự do, đòi cơm áo và quyền sống làm người, đòi phục hồi nhân phẩm và tài sản đất đai đã bị tước đoạt…
Lịch sử đã chứng minh rằng bất cứ chế độ độc tài nào cũng phải xụp đổ khi quần chúng nhất loạt xuống đường chống độc tài tham nhũng, chống áp bức bất công để giành lại quyền sống làm người, quyền làm chủ đất nước. “Đại nghĩa tất thắng hung tàn, chí nhân phải thay cường bạo”, Tập đoàn Việt gian bán nước cũng sẽ chịu chung một số phận trong một ngày gần đây.
Trân trọng kính chào quý vị.
PHẠM TRẦN ANH
Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016
HAI MƯƠI SÁU NĂM LƯU ĐÀY
CHƯƠNG I
THỜI THƠ ẤU
T
|
ôi Tỳ kheo Thích Thiện Minh, thế danh Huỳnh Văn Ba sinh ngày 29 tháng 8 năm1955, tại xã Vĩnh Lợi, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Thân phụ là Ông Huỳnh Văn Cầm, thân mẫu là Bà Nguyễn Thị Khéo. Tôi có 7 chị em, chị gái lớn thứ hai, em gái kế tôi thứ tư và 4 em trai. Tôi xuất thân trong gia đình đạo đức, cha tôi có tấm lòng nhân hậu, tánh tình rộng rãi hay giúp người, mẹ tôi một người đàn bà hiền thục, mẫu mực vất vả quanh năm vì chồng vì con cho đến cuối đời. Song thân tôi vốn là tín hữu Đạo Cao đài, trực thuộc Tòa thánh Tây Ninh, phụ mẫu tôi thường đi lễ bái ở Thánh thất hoặc ở các đền, chùa trong những ngày "Tam nguơn Tứ quý".
Từ bé tôi đã được sự hấp thụ giáo dục và uốn nắn của gia đình, đặc biệt là sự nghiêm huấn của phụ thân. Cha mẹ tôi có một thời phải rời nơi chánh quán Bạc Liêu để tha hương lưu lạc, lập nghiệp nơi xứ lạ quê người, tận đến tỉnh Trà Vinh, còn gọi là tỉnh Vĩnh Bình, hai chữ "Vĩnh Bình" cũng là tên của ngôi chùa “Vĩnh Bình” tôi làm trụ trì cách đây 26 năm về trước tại tỉnh Bạc Liêu. Tên ngôi chùa là để ghi nhớ lại những dấu ấn mang nhiều kỷ niệm của những ngày thơ ấu, khi tôi bắt đầu tập tễnh đi chùa lạy Phật, đọc kinh. Tôi xin lược thuật lại câu chuyện sau đây...
Năm lên sáu, bảy tuổi, tôi còn nhớ ở nơi đây, ngang nhà tôi trong làng thuộc ấp Long Bình, xã Phú Vinh, huyện Châu Thành tỉnh Vĩnh Bình có một người chị hàng xóm tên là Điệp khoảng trên hai mươi tuổi. Hằng đêm chị thường dắt tôi cùng một vài bạn trẻ trong xóm, trạc tuổi tôi đi ngang những hàng cây "Cồng" loại cây cổ thụ lâu đời, cành lá xum xuê, dưới gốc cây um tùm cỏ dại, trông rất rợn người nhất là về ban đêm rồi còn phải qua dốc cầu Long Bình, để đến chùa Long Khánh đọc kinh lạy Phật. Chính tại nơi đây tôi được xem bộ phim "Lược sử Đức Phật Thích Ca, từ Sơ sinh cho đến Thành Đạo", được Chùa Long Khánh tổ chức trình chiếu nhân những mùa Phật Đản hằng năm. Tôi thường đi theo cộ xe hoa cùng hàng đoàn người đi dạo khắp các ngã đường trong tỉnh lỵ.
Từ bé, tôi đã cảm thấy thích thú say sưa khi nghe tiếng tụng kinh rất thánh thoát với giọng đọc trầm bổng của quý Cô, quý Thầy, tiếng mõ với những âm thanh đều đặn và tiếng chuông chùa ngân nga êm ái, làm lắng đọng cả tâm hồn. Khói hương nghi ngút xông lên bay lượn trong một khoảng không gian thu hẹp phảng phất thoang thoảng mùi trầm, dưới mái chùa trang nghiêm thanh tịnh, bên cạnh những pho tượng từ bi của chư Phật và những hoa văn tinh xảo của 4 chữ "Đại Hùng Bửu Điện" hòa lẫn với những nét kiến trúc độc đáo của ngôi chùa cổ hơn trăm tuổi, càng làm tăng thêm vẻ cổ kính tôn nghiêm.
Bá tánh thập phương đến viếng chùa khi nhìn thấy cảnh trí, cảnh sắc, cảnh quan của ngôi tam bảo thì tự nhiên cảm thấy lòng mình như thoát tục, sẽ giải trừ bớt những đam trược của cuộc đời và quên đi phiền não, muốn huân tập đạo lý, giữ gìn phẩm hạnh, quyết tâm tu học bằng trí tụê tự giác, tự tỉnh trong niềm vui đạo vị để mong sớm thoát khỏi cảnh bể khổ trầm luân. Đặc biệt lúc còn bé tôi nhìn chiếc áo nâu sòng sao đẹp quá và tự nhiên muốn mặc quá! Tôi có ý nghĩ trong lòng và ước mơ thầm kín, ước gì sau nầy mình sẽ được đi tu. Nhưng có điều ngài ngại là mỗi khi đến chùa trông thấy ông thầy trụ trì, thì tôi né tránh không dám đến gần, không dám nhìn thẳng mặt Thầy, lúc ấy tôi sợ lắm! Vì thầy trụ trì có hàm râu quai nón, đôi mắt sáng quắc như hai vì sao, trông nét mặt, cử chỉ và cách nói năng rất từ tốn, điềm đạm và nghiêm trang, oai nghi tế hạnh, ít đùa cười!. Lúc đó tuổi thầy ước chừng khoảng 40-50. Tôi nhớ mang máng dường như Pháp danh là Thích Hoằng Thông? Nếu giờ nầy Ngài còn sinh tiền ắt là vị Đại lão Hòa Thượng khoảng chừng 80-90 tuổi...
Thế rồi, thời gian vài năm sau, song thân tôi lại rời tỉnh Vĩnh Bình về quê Bạc Liêu. Tôi cũng từ giã con đường mòn cũ, của những ngày thơ ấu cắp sách đến trường. Tôi đến chào thầy, chia tay bạn cùng lớp và từ biệt người chị hàng xóm kính yêu và cũng không quên chia tay vài người bạn trẻ thiết thân thường rủ nhau đi chùa lễ Phật hôm nào! Tôi cảm thấy một nỗi buồn rười rượi, rộn rạo, xao xuyến trong lòng, khi phải rời xa nơi có nhiều kỷ niệm, lưu luyến mến yêu. Tôi đến nhà chào chị lần cuối trước khi xuống ghe, cùng cha mẹ, theo dòng sông Cửu long, xuôi thuyền về đất Bạc! Chị ôm tôi vào lòng, tôi bật khóc…
Nét mặt chị buồn buồn và mí mắt như long lanh những giọt lệ cảm mến yêu thương. Chị khuyên tôi “Về Bạc Liêu em hãy cố gắng học hành, sống phải có hiếu với mẹ cha, thương yêu anh, chị, em trong gia đình, lễ phép với bà con lối xóm và nhất là đừng quên đi chùa lạy Phật, đọc kinh, nếu có chùa gần nhà là tiện nhất. Em nên đến thường xuyên”. Chị còn nói "Khi nào có dịp về Vĩnh Bình, em nhớ ghé nhà chị, hoặc gửi thư thăm chị nhé! Riêng chị, trong tương lai nếu đủ cơ duyên có lẽ chị sẽ xuất gia. Em nhớ niệm Phật Di Đà mỗi đêm trước khi đi ngủ hoặc niệm Quán Thế Âm Bồ Tát để Phật phò hộ cho mình”.
Từ đó đến nay tôi chưa có lần về lại chốn xưa, không biết giờ nầy chị đã xuất gia hay còn ở dưới mái gia đình, tôi tin tưởng rằng, chị luôn giữ vững niềm tín, Hạnh, Nguyện, bồ đề tâm kiên cố, cho dù chị chưa xuất gia để trở thành bậc Giáo thụ Thiện tri thức đi nữa. Chắc chắn hiện nay chị vẫn là người Phật tử thuần thành, một trong những người Ngoại hộ Thiện tri thức, một Đàn việt thiện tâm, góp phần hưng long cho Phật Đạo để xiển dương Chính pháp. Câu chuyện thật trên đây, là những kỷ niệm nhỏ của tuổi thơ. Nhưng mãi ghi nhớ trong tôi suốt cả cuộc đời tu hành. Tôi muốn nói lên tiếng nói cảm ơn chị...
Nhờ chị mà em nay đã và đang là kẻ xuất gia, đang dấn thân trên con đường giải thoát. Em đang mặc chiếc áo nâu sồng, chiếc áo của Như Lai, ở trong toà nhà Như Lai, đang “Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự”. Thưa chị, Em đang là Sứ giả của Như Lai, đang đi trên con đường tìm chân lý bằng một tấm lòng Chánh tín để thấu hiểu Chánh pháp nhằm phụng sự cho Chánh Đạo. Hôm nay ngồi ghi lại những trang hồi ký, tựa đề “Hồi ký 26 Năm lưu đày” nên ít nhiều phải lược sơ về tiểu sử của mình trong đó có những bước khởi đầu của cuộc đời tu học, ắt hẳn em không quên chị và em tưởng chừng như chị đang ngồi trước mặt của em đây! Em cố nhớ lại đầy đủ những lời chân tình chị khuyên bảo, và cố hình dung chiếc áo tràng màu nâu sẫm mà chị thường mặc trong những ngày đi chùa lễ Phật, trông rất dịu hiền và mỗi khi chị cầm tay em dẫn đi trên con đường mòn sỏi đá năm xưa…
Trong thời gian trở về cố quán Bạc Liêu, tôi còn nhớ, song thân tôi thỉnh thoảng đưa tôi đến Thánh thất Cao Đài Bạc Liêu trong những ngày lễ lạc, cúng bái. Cha tôi dạy đọc kinh, nhưng, tôi lại thích tham gia sinh hoạt trong nhóm gia đình Phật tử. Tôi rất thích đội chiếc nón hướng đạo. Lúc đó tôi cho là đội chiếc nón ấy trông vừa đẹp, vừa hiền. Tôi thường đến chùa lạy Phật, đọc kinh hay đi lạy sám hối trong những ngày Sóc, Vọng. Tôi vừa học giáo lý tại chùa, vừa đi học chữ phổ thông bên ngoài. Tôi học rất chăm giỏi, thường xuyên phải đạt từ hạng nhất, kém lắm là hạng ba của mỗi tháng học và luôn được lĩnh phần thưởng cuối mỗi năm. Tôi rất kén chọn bạn để tiếp giao, để trao đổi việc học hành.
Túc phúc thay! Duyên lành đến, tôi đã Quy y Tam Bảo và chẳng bao lâu sau đó, tôi xin phép mẹ cha được thí phát xuất gia, cắt ái từ thân và kể từ đây chính thức cuộc đời tôi bước sang một trang mới "Một con đường đầy hương hoa của đạo giác ngộ giải thoát". Sự tu hành của tôi rất tinh tấn tôi đã được tham dự nhiều khoá học Phật và kiết hạ an cư hàng năm, tham dự liên tiếp mấy khoá huấn luyện trụ trì từ Bạc Liêu cho đến Sóc Trăng, được nhiều cao tăng thiền đức chỉ giáo. Tôi thọ giới Sa di năm 1972 tại chùa Long Phước Bạc Liêu, lúc ấy Hòa Thượng Thích Đổng Minh còn mặc áo “Thiên Sam Nâu”. Ngài từ Nha Trang Sài Gòn đến Bạc Liêu được cung thỉnh làm Đệ nhất Tôn chứng và tôi thọ “Cụ Túc Giới” tại giới đàn “Thiện Hoa” nơi Tổ Đình Chùa Ấn Quang năm 1977 do Hòa Thượng Thích Trí Thủ, nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo làm đàn chủ và Đại lão Hoà Thượng Thích Hành Trụ đương kiêm phó Tăng Thống, (Tức Sa Môn Lê Phước Bình ) làm Chứng minh Đạo sư.
Nói tóm lại, trong thời gian tu học, tôi được bổ nhiệm về làm trụ trì tại ngôi chùa Vĩnh Bình, lúc tuổi rất còn trẻ chỉ 17 tuổi thôi, cho nên sự thông hiểu kinh, luật luận của tôi còn hạn chế. Tôi làm trụ trì, nhưng chỉ là chú Sa di, chứ lúc đó tôi chưa đủ tuổi thọ Tỳ Khưu Giới, ngôi chùa tôi trụ trì toạ lạc tại ấp Cái Dầy, xã Châu hưng, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Bởi vì còn quá trẻ cho nên huynh đệ hay gọi tôi là "Tu sĩ sữa”, còn đồng bào phật tử xa gần họ gọi tôi đủ cách “có người gọi bằng huynh, có người gọi bằng thầy, có người gọi bằng ông đạo và có người lại gọi bằng cậu, bằng con, bằng cháu nữa!”. Tôi từng bước điều chỉnh một cách khéo léo và tế nhị, để mọi người thống nhất cách xưng hô.
Bước đầu về chùa, tôi vừa tu, vừa mở trường dạy học và còn phải tiếp tục học phổ thông cho đến khi tốt nghiệp. Sau đó vì nhu cầu thiết thực của địa phương, tôi bắt đầu tham dự khoá 18 tháng Nam Y Dược và châm cứu do Đông y dược sĩ kiêm Châm cứu sư Trần Bá Lân nhiệt tâm truyền dạy. Khi mãn khóa học tôi trực tiếp điều hành phòng mạch hốt thuốc Nam và châm cứu tại Chùa Vĩnh Bình cùng với các môn đệ để điều trị bệnh giúp cho đồng bào, phật tử xa gần. Song song tôi còn được mời phụ trách cả ngôi chùa Vĩnh Bữu tại ấp Trà Văn xã Châu Hưng. Ngoài ra có thiện duyên được Hòa Thượng Thích Thiện Định chùa Lộc Hòa tại huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng ngỏ lời nhận làm Trưởng tử nối nghiệp truyền thừa, lại vừa Cố vấn và hướng dẫn bộ mạch Đông y - Châm cứu cho Đại Đức Thích Thiện Tâm là Huynh đệ của tôi đang trụ trì tại chùa Khánh Lâm, xã Tuân Tức nữa!
Tôi đang bận rộn công việc Phật sự liên miên thì nhận thêm quyết định phân công của Hòa Thượng Thích Trí Đức đến khai mở phòng thuốc Nam, Châm cứu và giảng dạy giáo lý hằng tuần cho quý Phật tử tại chùa Từ Quang ấp 1 Cây Gừa, xã Thạnh Bình, huyện Giá Rai tỉnh Minh Hải. Chính hoàn cảnh ấy tôi phải đình hoãn học phổ thông nên không thể lên thành phố tiếp tục việc học được và tôi bắt đầu học hàm thụ tại Trung tâm giáo Dục “VÌ SAO” ở Sài gòn. Tôi học chuyên khoa Báo chí, bài vở được nhà trường gởi về tận chùa rất đầy đủ qua đường dây Bưu điện có cả những tài liệu chuyên nghiệp của các ký giả và phóng viên quốc tế.
Hôm nay sẵn tiện trên trang mở đầu giới thiệu sơ lược về tiểu sử bản thân, tôi xin trần thuật lại tâm tư của mình về một sự việc rất ấn tượng diễn ra khoảng một vài năm trước năm 1975 có liên quan đến tôi trong thời gian làm trụ trì tại chùa Vĩnh Bình như sau: Vào thời điểm tôi đang học hàm thụ về khoa báo chí cho nên tôi thường xuyên đọc các loại báo để cập nhật phương pháp viết bản tin, ký sự, phóng sự điều tra, phóng tác, tùy bút, bình luận…
Một hôm tôi đọc đến mục giới thiệu các tác phẩm mới vừa xuất bản, tôi chợt nhận ra 1 tập thơ với tựa đề “Khói Lửa 20” của nhà thơ Lý Thụy Ý sẽ dành tặng miễn phí ưu tiên cho một số đọc giả biên thư về sớm nhất theo địa chỉ. Thật là “thiên tải giai kỳ” dịp may hiếm có, tôi vội vàng biên thư ngay hỏi xin tác giả. Lúc ấy thật tình tôi không biết nhà thơ là nam hay nữ để gọi cho đúng cách xưng hô, vì chữ lót giữa nếu là “Thị” thì dễ nhận, còn chữ “Thụy” thì khó phân biệt, bởi nam giới cũng có nhiều người dùng chữ lót nầy. Tôi phải đắn đo suy nghĩ để chọn từ cho thích hợp, cho dù tác giả thuộc giới tính nào cũng không bị sơ xuất nên tôi chỉ viết chung chung là: “Tình cờ đọc được tin trên báo, tôi thấy nhà thơ giới thiệu tập thơ tựa đề “Khói Lửa 20” vừa mới xuất bản. Đặc biệt sẽ dành tặng ưu tiên cho những độc giả biên thư về sớm nhất, tôi là nhà tu nhưng rất hâm mộ “Thi ca”. Nay mấy lời này xin nhà thơ hoan hỷ thi ân cho tôi 1 thi tập để học những thi pháp, tham khảo những thi tứ, ngâm vịnh những thi khúc và thưởng thức những thi vị của thi nhân. Xin kính gởi đến thi sĩ lời chân thành cảm ơn và cầu chúc mọi sự an lành, muôn điều phúc lạc”.
Tác giả nhận được thư của tôi không biết có buồn cười họăc cảm thông cho một ông Sư vụng về hay không mà khoảng 1 tháng sau tôi nhận được tập thơ của tác giả gửi về tới tận chùa. Lúc nầy vì quá bận nhiều công tác Phật sự nên tôi vô tình không viết thư cảm ơn hồi âm đến tác giả. Đây là một điều thiếu sót đáng trách, mãi hơn 2 tháng sau tôi tiếp tục nhận thêm 1 tập thơ nữa. Lúc bấy giờ tôi rất lấy làm xấu hổ về sự khuyết điểm của mình nên không chần chờ thêm phút giây nào nữa cả, tôi bèn biên thư hồi âm và xin lỗi ngay. Tôi hy vọng tác giả sẽ nhận được sự hồi âm của mình, chỉ bấy nhiêu thôi tôi thấy tác giả là người rất đáng mến mộ và trân trọng.
Thời gian hơn 30 năm sau, cho đến khi tôi được thuyên chuyển từ nhà tù Xuân Phước tỉnh Phú Khánh về trại giam Z 30A huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, tôi có cơ duyên tiếp xúc với 2 nhà văn, Bác Doãn Quốc Sĩ và Ông Hoàng Hãi Thủy. Hai vị có giới thiệu nên tôi mới nhận ra tác giả Lý Thụy Ý của tập thơ “Khói Lửa 20” mà hồn thơ tôi rất tâm đắc là một nữ thi sĩ tài hoa. Hôm nay ngồi tại tư gia ghi lại mấy dòng hồi ký nầy chứ không phải tại mái chùa xưa nơi đón nhận tập thơ thuở trước. Lòng tôi cảm thấy man mác bồi hồi một nỗi niềm hoài cảm với những thi sĩ có những vần thơ dạt dào rung động ngày xưa… của một thời đã qua. Cho dù tôi chưa có dịp tiếp kiến với nữ thi sĩ, cũng như hơn một phần tư thế kỷ tôi bị giam hãm trong chốn lao tù, thì tập thơ hay có nhiều kỷ niệm kia cũng âm thầm, buồn lặng mai một trôi theo dòng thời gian nay không biết đã về đâu!?
Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016
CƯỚP SÚNG CHÈO…
Một kỷ niệm hú hồn xảy ra trong thời gian tôi làm đội trưởng ở trại Xuân Lộc. Mỗi buổi sáng khi xuất đội đi lao động, tôi thường bàn với cán bộ quản giáo đội lúc đó tên là Thảo về công việc trong ngày, chỉ tiêu lao động dĩ nhiên là tương đối nhẹ nhàng cho anh em mình. Trong đội có chú em tên Mạnh, tính khí hơi nóng giận bất thường một chút. Khoảng hơn 11 giờ sáng hôm đó, tôi vừa về nhà lô một chút thì thấy cán bộ võ trang dẫn đội về. Tôi bước ra thì nghe thấy Mạnh và tên cán bộ vừa đi vừa cãi nhau. Sau này tôi nghe anh em kể lại là cãi nhau từ ngoài đội, tên võ trang nói xỏ xiên chê bai thần quyền mà Mạnh đang tập nên y thách thức đòi so tài cao thấp …
Tôi nghe thấy to tiếng cãi vã nên vội bước ra can thiệp. Lúc đó tên cán bộ Phẩm mặt đỏ gay, miệng chửi thề liên tục. Mạnh như điên tiết muốn xông vào, tôi nhảy ra đứng giữa hai người. Hai bên vẫn lớn tiếng cãi nhau, đột nhiên tên võ trang chửi thề “Địt mẹ mày còn nói nữa ông bắn bỏ mẹ mày bây giờ”. Tôi vội nói “cán bộ để tôi và cán bộ Thảo giải quyết chuyện này”. Tên này không nghe vừa nâng súng lên thì Mạnh nhảy vào ôm nó đè xuống. Anh em chạy tán loạn, tôi thấy nguy hiểm quá, một thoáng biến sắc rồi cũng nhảy vào lấy tay đè mũi súng xuống sợ nổ trúng anh em. Tên võ trang không dám bỏ súng nên Mạnh đánh tới tấp vào mặt, máu mũi chảy ra be bét.
Đang lúc đó thì cán bộ võ trang thứ hai chạy tới thấy đang ôm nhau giật súng, y nâng nòng súng lên. Tôi vội giơ tay nói “Cán bộ Ly không có gì đâu. Đừng bắn”. Vừa lúc đó cán bộ quản giáo Thảo chạy tới, tôi nói cán bộ Thảo tháo băng đạn ra. Lúc đó không còn thì giờ suy nghĩ, cán bộ Thảo nhảy vào tháo băng đạn ra. Tôi nói ngay cán bộ Thảo giữ cán bộ Phẩm ở đây để tôi đưa Mạnh vào trại. Vừa tới cổng trại thì tên Phẩm vừa chạy theo vừa la lớn: “anh Sơn đừng cho nó vào, nó đánh em chảy máu mũi rồi”. Tên Sơn trực trại hỏi tôi việc gì vậy anh Anh. Tôi nói ngay, lệnh ban giám thị nhốt thằng này gấp, vừa nói vừa đẩy Mạnh vào bên trong trại. Tôi phải làm và nói vậy vì nếu để Mạnh ở ngoài chắc chắn là phải chết vì đòn thù của chúng. Mấy phút sau tên trưởng trại Phước chạy vào gặp tôi hỏi vụ việc xảy ra. Tôi đánh phủ đầu ngay để hù y là: “Cũng may không có tôi nhảy vào đè mũi súng xuống thì ngày mai đài Mỹ đã loan tin là trại giết tù chính trị là cán bộ mất chức liền ...”. Tên Giám thị nghe vậy cũng giật mình nói vội “Thôi vậy là may quá, anh cho đội về nghỉ rồi cho sinh hoạt kiểm điểm”.
Sự việc xảy ra thật bất ngờ, nhưng cũng thật là may, nếu tôi không liều nhảy vào thì chắc chắn là chúng sẽ bắn chết Mạnh và có thể nhiều người nữa. Tôi nói may vì cán bộ Ly bất mãn với chế độ nên thường hỏi han tôi về tình hình, chính vì vậy mà anh ta không bắn chứ nếu là người khác chắc tôi cũng đi đứt rồi, xong hồ sơ rồi. Sau đó, bọn an ninh điều tra liên tục, vẽ lại sơ đồ hiện trường thấy anh em đều đứng xa nơi giựt súng, 2 đại uý Nguyễn Hữu Cầu và đại uý Nguyễn văn Thục của mình nhanh chân nhảy xuống bờ ao nên không có lý do để qui kết là mưu toan cướp súng thì khốn nạn vô cùng!
Sự việc không chỉ có thế, trong đội cũng kiểm điểm, và Mạnh phải đi kỷ luật 6 tháng. Trại cũng kiểm điểm kết tội cán bộ Thảo và cán bộ Ly là: "Nào là tiếp tay với địch, nào là không kiên định lập trường chuyên chính, sao không “bắn bỏ mẹ chúng nó đi”. Tội nghiệp cán bộ Thảo bị kỷ luật, sa thải khỏi ngành còn cán bộ Ly bị kỷ luật thuyên chuyển đi nơi khác. Viết đến đây tôi thầm cám ơn những người anh em dù trong hoàn cảnh phải đi bộ đội, phải đi công an nhưng vẫn còn lòng nhân ái và đặc biệt vẫn ngấm ngầm chống cộng như chúng ta.
Trong đời tù, tôi đã gặp ít nhất là mấy người công an có người lên tới cấp đại uý công an nhưng vẫn âm thầm giúp đỡ chúng tôi thật nhiều. Họ thông báo với tôi về những kế hoạch của cộng sản là chúng sẽ tàn sát chúng tôi nếu Trung Quốc tấn công tới đây, vụ chống phá trại ở Đại Bình cũng được một sĩ quan an ninh thông cung chỉ cách khai cung tránh né. Môt viên sĩ quan chắc bây giờ cũng lên tới cấp tá rồi một lần đã nói với tôi là nếu Phục quốc đến đây thì anh ta là người đầu tiên sẽ bắn bắn hết chúng nó … và chắc quý vị cũng chẳng ngờ được là trong trại tù để lọt một cây kim cũng là một vấn đề khó khăn, thế mà trong phòng lúc nào chúng tôi cũng có một chiếc radio nhỏ để nghe tin tức VOA, BBC và cả đài Á châu Tự do để theo dõi sát tình hình. Chính những người này mua cho tôi, mỗi lần có tin xét phòng phải bóp nát nhét vào lỗ cầu phi tang và cũng nhờ họ mới chuyển bản kháng thư ra ngoài để gia đình gửi tới Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tôi phân công để một anh bạn tù bệnh kinh niên hom hem, lúc nào cũng trùm mền có nhiệm vụ nghe các đài. Sáng sớm hôm sau thức dậy, ra đứng tập thể dục cạnh tôi, tay chân chim bay cò bay nhưng miệng vẫn nói lại những gì đã nghe đêm hôm qua.
Xin chân thành cám ơn những người anh em gọi là bên kia chiến tuyến phải vào quân đội công an vì hoàn cảnh nên cũng là nạn nhân của chế độ. Họ là nạn nhân của cộng sản trước đồng bào miền Nam chúng ta 21 năm trời nên họ hiểu rõ hơn ai hết bộ mặt thật của cộng sản. Sau ngày quốc hận 30 tháng tư 1975, đồng bào miền Nam phát pháo trước nhưng họ sẽ cùng với đồng bào cả nước và đồng bào hải ngoại sẽ dứt điểm chế độ cộng sản bạo tàn phi nhân phản dân tộc ngay trong lòng của cộng sản Việt Nam. Những người anh em này có một tấm lòng nhân hậu, yêu thương và cũng một lòng chống bọn độc tài cộng sản. Chúng ta cũng sẽ chẳng ngạc nhiên khi cộng sản đàn áp dân lành thì những người Việt Nam yêu nước chống độc tài cộng sản ngay trong hàng ngũ bộ đội, công an sẽ đứng lên cùng đồng bào lật đổ chế độ cộng sản, đó là điều cộng sản không bao giờ ngờ nhưng nó sẽ xảy ra trong nay mai mà thôi.
Vụ “Cướp súng” này này xảy ra chưa được một tháng thì một buổi sáng tinh mơ, chúng tôi được lệnh dọn đồ chuyển trại không biết đi tới đâu nhưng chúng tôi cũng hiểu là chắc chắn sẽ đến một nơi khắc nghiệt hơn nơi địa ngục trần gian này!
ĐÃ CHÁN CHƯA, NƠI CHỨA CHAN ... ĐẦY CHAN CHỨA ẤY ANH ƠI?
Trần Ngọc Tự bạn tôi trông vẫn như ngày nào còn là trung úy Không Quân, nhà văn thuộc khối Chính Huấn Bộ Tư lệnh Không Quân. Vẫn cặp kiếng trắng dầy, tay vẫn cầm cái pipe hút thuốc thở khói phì phèo khiến tôi ngửi mùi thuốc thơm thèm muốn chết, nên chưa kịp chào hỏi nói năng gì tôi đã đưa tay ra nói “cho tao làm một hơi cho đỡ nhớ” … Hai thằng nói chuyện cười vui ha hả … thăm hỏi gia đình bạn bè chưa xong thì đã hết giờ. Tự nói vội “Gặp cậu thấy còn phong độ tôi mừng, yên tâm rồi nhưng nhớ giữ sức khoẻ nhé, Phạm Trần Anh còn thì còn tất cả...".
Tự gửi cho tôi mấy cây thuốc hút, thuốc lào thuốc rê có đủ và một cuốn sách của nhà xuất bản văn học phê phán một một học phái Xã hội chủ nghĩa khác là “Chủ nghĩa xã hội không có con người”. Đêm đó tôi không thể nào ngủ được, những tâm tình tản mạn, những nhắn gửi chân tình và nhất là mấy chữ Tự viết trên trang sách: “Tặng Phạm Trần Công tử … Đã chán chưa … nơi Chứa Chan … đầy chan chứa ấy, Anh ơi!?”. Vẫn là Ngọc Tự ngày nào với văn chương đầy người tràn ra lênh láng, anh chàng chơi chữ vì trại tù nằm dưới chân núi Chứa Chan. Tôi thiếp vào giấc ngủ lúc nào không biết khi tỉnh dậy nhớ lại mấy dòng chữ của bạn hiền, ý thơ tuôn ra một mạch:
Bạn hỏi ta rằng đã chán chưa?
Chung thân chống Cộng cũng chẳng vừa
Đường đi chưa tới hề … chưa chán,
Nước đợi dân chờ, ôi … chứa chan !!!
Chứa Chan chan chứa bao tình
Nghìn trùng sông núi thương “mình” bấy nhiêu
Dù cho gian khổ muôn chiều
Bao nhiêu thương nhớ bấy nhiêu là tình…
Trại tù Z30A Khu A, chân núi Chứa Chan 1986
* Chữ “Mình” ở đây vừa chính là bản thân mình, vừa là người vợ yêu của mình. Mình ơi… Chỉ Việt Nam ta mới có chữ “mình” tuyệt vời nhất nhân loại!

Chèo hỏi ta rằng đã ngán chưa
Chung thân chống Cộng cũng chẳng chừa
“Đường đi chưa tới hề chưa ngán
Bá ngọ nhà bay một lũ lừa!”
* Mấy thằng “Chèo” nhãi ranh cũng vênh váo hù dọa “Bố náo, Bố nếu... Mày cả gan dám chống chúng tao, mày là vua chống đối các trại hả? Tao cho mày không thấy ánh sáng mặt trời để mày chết rục xương … ngán chưa?” Kẻ hèn này tức khí nên làm thơ chửi lũ lừa cho đã giận.
LEO RÀO SANG KHU SĨ QUAN HÁT TÙ CA
Tôi còn nhớ là anh em tù chính trị đã mang đàn leo rào sang khu sĩ quan lúc các anh em sĩ quan viên chức chế độ Việt Nam Cộng hoà mới được đưa từ ngoài Bắc trở vào miền Nam. Trại tù Z30A chia làm 2 khu cách nhau một cái sân banh, một bên là tù chính trị và bên kia là sĩ quan cải tạo gồm khoảng 400 đại tá, trung tá trong đó có một vài viên Tổng bộ trưởng chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chính nhờ dịp này mà tôi được gặp nhiều anh em như đại tá Tường Hùm xám Bình Định, đại tá Lương Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, đại tá Thiều, đại tá Quang, đại tá Nguyễn văn Huy, Trung tá Dù Lê Minh Ngọc và Trung tá Bùi Quyền, anh của Bùi Châu bạn đồng khoá của tôi. Đặc biệt nhất là một số anh em sĩ quan trẻ trong đó có nhà thơ lửa Trần Thúc Vũ tức Thiếu Tá Bùi Kim Đỉnh và Đại tá Không quân Phùng Ngọc Ẩn …. Chính Trần Thúc Vũ và Phùng Ngọc Ẩn đã đến sát hàng rào nơi chúng tôi mới từ Đại Bình chuyển trại đến đây, Đại tá Ẩn đã quỳ xuống để Trần Thúc Vũ nhảy qua hàng rào tiếp tế và hỏi thăm anh em. Vũ hỏi tôi anh ở mặt trận nào? Tôi nói, tôi ở Mặt Trận Người Việt Tự Do Diệt Cộng Phục Quốc thì nhà thơ đọc tặng tôi mấy câu thơ mới làm tối hôm qua:
Lá Tự do nuôi một trời hy vọng,
Cây Tự Do nuôi Dân Tộc Hưng Tồn
Người Việt Tự Do muôn thuở thơm danh
Danh thơm ấy bởi bao nguồn máu đổ…
Máu đã đổ trên khắp miền đất nước
Triệu bàn tay chung dựng mặt trời lên
Triệu hờn căm gom lại một căm hờn
Xô lệch núi, xoay nghiêng trời đất lại…
Sau đó, một buổi trưa sau khi cho mấy tên trực trại ăn nhậu say sưa, anh em đã tổ chức đưa anh em tù chính trị sang bên khu sĩ quan ra mắt anh em sĩ quan và cùng hát “Tù ca”. Tôi nhớ trong số mấy anh em vượt rào qua có nhạc sĩ Cao Trường Xuân, nhạc sĩ Lê Thụ … cùng với tác giả bài “Chiếc giày dũng sĩ” và anh em sĩ quan cùng chào quốc kỳ hát quốc ca trong một không khí hết sức nồng ấm thân thương. Tôi còn nhớ anh Đại tá Hạnh, Đại tá Quang, Đại tá Lương ôm tôi nói: “Anh em bên này rất cảm động và hãnh diện có mấy em tiếp tục con đường chiến đấu. Mấy em ráng đi … rồi những giọt nước mắt của mấy anh trào ra tự lúc nào!".
Khi anh em sĩ quan mình từ ngoài Bắc về, cán bộ trại mừng rỡ ra mặt vì chúng tha hồ xin xỏ kiếm chác bổng lộc nhiều hơn. Ban Giám thị trại tù còn cho thăm nuôi tối đa bất kỳ ngày nào, ngủ với vợ con bao nhiêu đêm cũng được miễn là biết điều quà cáp chút chút nên nhiều chuyện khó coi xảy ra miễn là được ra ngủ với vợ một vài đêm mà không biết rằng chúng rình mò kể lại cho nhau nghe một cách thích thú.
Thực tế đau lòng là lúc trước, cán bộ y tế cho nghỉ bệnh và cấp phát thuốc men cho anh em tù tương đối đầy đủ nhưng từ khi có bác sĩ và mấy y tá cải tạo ra làm ở phòng y tế thì anh em phàn nàn là vấn đề khai bệnh nghỉ và cấp phát thuốc men khó khăn hơn. Đa số anh em tỏ vẻ bực tức vì thái độ khúm núm sợ sệt nịnh bợ một thưa hai dạ với cán bộ nên khi cán bộ vào xin thuốc thì lấy thuốc tiêu chuẩn của tù cấp tối đa cho cả gia đình. Khi anh em tù chính trị khám bệnh thì chỉ cho một vài viên gọi là có. Mấy ông cụ phàn nàn với tôi về điều này trong khi mấy anh em trẻ giận dữ tính gây gỗ mượn cớ để đánh cho bõ ghét. Tôi vội can ngăn để từ từ tôi sang khai bệnh xem sao rồi mới tính nhưng thực ra tôi sợ bọn cộng sản nó khinh nên tìm cách sang gặp để nói chuyện, nếu cần thì chính tôi sẽ nói và làm điều này chứ để anh em trẻ phản ứng coi không đẹp mắt chút nào… Thực ra tôi không xa lạ gì với ông bác sĩ một thời nổi đình nổi đám này, nhưng cũng may khi gặp lại, ông ta tỏ ra vồn vã nói tôi cần gì cứ nói để ông ta lo. Tôi nói thẳng là tôi không cần gì riêng cho cá nhân tôi nhưng sang để nói về dư luận của anh em tù chính trị đối với mấy anh từ Bắc về đang ở trong ban y tế trại khó khăn anh em. Tôi nói anh phải xem lại vấn đề nếu không thì anh em trẻ sẽ có thái độ. Tôi rất vui vì sau đó, sự đáng tiếc đã không xảy ra và việc khám bệnh cấp phát thuốc men dễ dãi và nhiệt tình hơn trước đó…
Trung Quốc, Trump và Biển Đông sắp tới
Chính sách mới của Mỹ về Trung Quốc và Biển Đông trong thời gian sắp tới vẫn còn gây nhiều đồn đoán. Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, một chuyên gia về quan hệ quốc tế, đang làm việc tại Singapore cho Đài Á Châu Tự Do RFA cuộc trao đổi sau đây về vấn đề này, cũng như những khía cạnh có liên quan đến Việt Nam.
TS Lê Hồng Hiệp: Theo tôi thì vẫn còn sớm để nói đến chính sách của Mỹ dưới thời ông Donald Trump đối với châu Á nói chung cũng như là Trung Quốc hay Việt Nam nói riêng.
Trong thời gian qua ông Donald Trump đưa ra những ý kiến tương đối mâu thuẫn nhau. Một mặt ông tuyên bố sẽ giảm dần sự can dự vào khu vực, nhưng mặt khác thì một số diễn biến gần đây lại cho thấy điều ngược lại. Trong kỳ nghĩ cuối tuần vừa qua, nhiều người bàn luận đến cuộc nói chuyện trực tiếp giữa ông Donald Trump và bà Thái Anh Văn, Tổng thống Đài Loan. Đây là điều khá đặc biệt từ khi Mỹ và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ, và Mỹ cắt đứt quan hệ với Đài Loan.
Đây là lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ nói chuyện trực tiếp với một lãnh đạo Đài Loan. Điều này đặt ra một câu hỏi về chính sách của Mỹ với Trung Quốc trong thời gian tới sẽ như thế nào. Một số học giả Trung Quốc cho rằng cuộc nói chuyện vừa rồi là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với công luận và giới làm chính sách Trung Quốc, bởi vì từ khi ông Trump đắc cử, nhiều nhà phân tích Trung Quốc có cái nhìn tương đối lạc quan về quan hệ Mỹ Trung trong thời gian tới, cũng như vai trò của Trung Quốc trong khu vực, do chính sách biệt lập mà ông Trump nêu ra.
Sự yên tĩnh trên biển Đông chỉ là tạm thời, phù hợp với cách hành xử của Trung Quốc trong quá khứ. Đó là chiến lược lát cắt salami.
-TS Lê Hồng Hiệp
Một số diễn biến khác liên quan đến tình hình Triều Tiên hay biển Đông thì chúng ta chưa có thông tin rõ ràng để khẳng định xu hướng sắp tới. Tuy nhiên, với những gì ông Trump thể hiện vừa qua về Trung Quốc và Đài Loan, thì có lẽ là chúng ta phải chờ đợi thêm để mà có dữ liệu đầy đủ hơn, để đánh giá xu hướng chính sách của Mỹ dưới thời ông Trump chính xác hơn.
Kính Hòa: Trung Quốc trong thời gian qua có vẻ ít có hành động trên biển Đông?
TS Lê Hồng Hiệp: Một phần sự yên tĩnh trong thời gian qua trên biển Đông là do Trung Quốc đã hoàn thành cơ bản việc xây dựng các đảo nhân tạo trên biển Đông. Bây giờ họ chỉ âm thầm hoàn thiện, điều đó không gây nhiều tranh cãi và phản đối.
Thứ hai là sau phán quyết của tòa trọng tài về vụ kiện của Philippines hồi tháng bảy vừa rồi, thì tôi nghĩ rằng bản thân Trung Quốc họ cũng có sự kềm chế để mà giảm sức ép về ngoại giao và công luận về chính sách biển Đông của họ. Dường như họ cũng có sự nhún nhường nhất định để thực hiện mục tiêu này.
Thứ ba là một nhân tố chủ chốt trong tranh chấp biển Đông, đó là Philippines dưới thời Tổng thống Duterte có sự thay đổi về chính sách, và chính vì vậy mà Bắc Kinh muốn có một thời gian yên tĩnh để mà lôi kéo được ông Duterte một cách thành công hơn, cho nên họ có giảm căng thẳng trên biển Đông.
Tuy nhiên tôi nghĩ rằng sự yên tĩnh chỉ là tạm thời, phù hợp với cách hành xử của Trung Quốc trong quá khứ. Đó là chiến lược lát cắt salami, tức là sau một thời gian căng thẳng đạt được các mục tiêu của mình, thì Trung Quốc tạo ra một thời kỳ lắng dịu trước khi bước vào một đợt căng thẳng mới. Có lẽ năm 2017, 2018 sẽ có những căng thẳng mới do Trung Quốc gây ra trên biển Đông. Đặc biệt nếu chính quyền của Mỹ có những hành động mà Bắc Kinh cảm nhận là thù địch với Trung Quốc trên biển Đông.
Kính Hòa: Ông vừa nói tới hành động của Tổng thống Duterte của Philippines cũng như phán quyết của tòa trọng tài, thì phán quyết đó đặt Trung Quốc vào thất thế. Tại sao bây giờ không chỉ Philippines và cả Malaysia nữa lại đổi thái độ đối với Trung Quốc?
TS Lê Hồng Hiệp: Sự thay đổi chính sách của Philippines nó xuất phát từ lập trường quan điểm của Tổng thống Duterte. Các ưu tiên chính sách của ông thiên về các vấn đề trong nước nhiều hơn. Để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế trong nước thì Philippines cần sự hợp tác kinh tế với Trung Quốc, vì vậy ông cần cải thiện quan hệ với Trung Quốc, cố gắng duy trì một quan hệ gọi là ổn định, mang tính hợp tác nhiều hơn với Trung Quốc hơn là ông Aquino trước đây.
Ngoài ra tôi nghĩ là về chính sách biển Đông, thì sau phán quyết của tòa trọng tài, với thắng lợi áp đảo của mình như vậy thì phía Philippines cũng có như cầu cải thiện quan hệ với Trung Quốc, không ép làm họ mất mặt quá nhiều có thể có những phản ứng gay gắt làm căng thẳng leo thang.
Vấn đề mấu chốt ở đây là vừa cải thiện quan hệ với Trung Quốc, vừa bảo toàn lợi ích của họ. Và vấn đề cải thiện quan hệ với Trung Quốc cũng không phải là điều gì quá phương hại đến lợi ích của Philippines trên biển Đông, miễn là bảo tồn được thắng lợi của họ trong vụ kiện vừa qua.
Còn Malaysia thì bấy lâu nay quan hệ của họ vói Trung Quốc cũng đã tích cực và gần gũi. Trong thời gian qua Malaysia gặp nhiều sức ép trong nước cũng như bên ngoài. Trong nước thì có chuyện bê bối của Thủ tướng Malaysia liên quan đến một quĩ đầu tư.
Ông Najib cũng muốn sử dụng các nguồn lực của Trung Quốc để hóa giải vụ bê bối này, đặc biệt là các công ty Trung Quốc mua các món nợ xấu của quĩ đầu tư, giúp ông Najib phục hồi uy tín trong nước. Mặt khác ông Najib cũng gặp chỉ trích của Mỹ liên quan đến những bê bối của vụ tham nhũng này, vì vậy việc xoay trục sang Trung Quốc cũng là một phản ứng dễ hiểu.
Kính Hòa: Có vẻ như trong bối cảnh hiện tại thì Việt Nam trở nên ngày càng đơn độc hơn, thì ông đoán là sắp tới cách tiếp cận vấn đề biển Đông của Việt Nam sẽ như thế nào?
TS Lê Hồng Hiệp: Việt Nam về mặt nguyên tắc chiến lược thì sẽ không thay đổi nhiều, có nghĩa là sẽ kiên định các lập trường, chính sách, các tuyên bố chủ quyền của mình trên biển Đông, tăng cường quan hệ với các đối tác chủ chốt như Hoa Kỳ, Nhật Bản, ASEAN để mà đối phó với các sức ép trên biển Đông.
Tuy nhiên về mặt chiến thuật thì sẽ có thể có những điều chỉnh. Ví dụ như trong trường hợp ông Donald Trump có một sự thõa hiệp với Trung Quốc trên biển Đông thì Việt Nam cũng phải điều chỉnh ít nhiều để có thể có lợi hơn. Nếu Hoa Kỳ giữ nguyên cách tiếp cận của họ về biển Đông thì có lẽ Việt Nam cũng không cần quá lo lắng, hay là khỏi điều chỉnh nhiều các chính sách của mình trên biển Đông.
Mỹ có thỏa hiệp với Trung Quốc trên biển Đông, và Việt Nam có điều chỉnh theo sự thỏa hiệp đó hay không thì chúng ta cần phải chờ xem.
Trong bối cảnh những diễn biến quá lớn mang tính bước ngoặc chưa diễn ra thì Việt Nam vẫn duy trì đường hướng lâu nay của mình là kết hợp nội lực và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để mà giải quyết sức ép từ phía Trung Quốc.
-TS Lê Hồng Hiệp
Trong lập trường của ông Trump về vấn đề Đài Loan, thì chúng ta cũng có chút hy vọng là ông ấy sẽ không thay đổi, sẽ không thỏa hiệp với Trung Quốc như nhiều người lo ngại lâu nay.
Kính Hòa: Nhìn các động thái của Việt Nam trong thời gian qua thì có vẻ như Việt Nam lại mạnh dạng hơn, ví du như cái tin Việt Nam đưa tên lửa ra Trường Sa, hay ảnh vệ tinh gần đây cho thấy Việt Nam mở rộng sân bay trên đảo Trường Sa lớn. Như vậy giải thích như thế nào về những hành động có vẻ như mạnh dạn hơn đó?
TS Lê Hồng Hiệp: Chính sách biển Đông của Việt Nam bao gồm nhiều mặt khác nhau, trong đó có sự kết hợp giữa hai phần, phát triển nội lực và sử dung ngoại lực. Những động thái mà anh vừa nói là thể hiện sự quyết tâm bên trong của Việt Nam nhiều hơn.
Chính vì vậy nếu có những diễn biến bên ngoài gây bất lợi cho Việt Nam thì Việt Nam vẫn có thể kiên trì duy trì các chính sách liên quan đến nội lực của mình. Tất nhiên nếu có sự thay đổi bên trọng bên ngoài thì Việt Nam có thể phải cân nhắc.
Nhưng trong bối cảnh những diễn biến quá lớn mang tính bước ngoặc chưa diễn ra thì Việt Nam vẫn duy trì đường hướng lâu nay của mình là kết hợp nội lực và tận dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài để mà giải quyết sức ép từ phía Trung Quốc.
Chúng ta không nên tách các hành động ấy của Việt Nam ra khỏi chính sách tổng thể trong chuyện giải quyết vấn đề biển Đông với Trung Quốc.
Kính Hòa: Xin cảm ơn ông.
Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016
TÌNH ĐỒNG BÀO NGHĨA RUỘT THỊT,
Ý NGHĨA NHÂN VĂN CAO ĐẸP CỦA VIỆT NAM
Truyền thống lịch sử năm ngàn năm văn hiến còn cho chúng ta một ý nghĩa cao đẹp tràn đầy vẻ nhân văn của huyền thoại Việt Nam mà không một dân tộc nào có được. Thật vậy, từ hình tượng Mẹ Tiên đẻ ra một bọc trăm trứng rồi đem ra để ở ngoài đồng để mẹ đất ấp ủ, bảy ngày sau nở ra trăm người con trai, người nào cũng khôi ngô tuấn tú đã cho chúng ta niềm tự hào con Rồng cháu Tiên. Chúng ta có chung cội nguồn huyết thống thiêng liêng, truyền lưu cho chúng ta nên chúng ta đều “bình đẳng” như nhau. Chúng ta cùng chung một bào thai của Mẹ Âu Cơ, người Mẹ Tổ quốc Việt Nam sinh thành dưỡng dục nên chúng ta có quyền gọi những anh em là đồng bào ruột thịt mà các dân tộc khác không thể gọi được như thế.
Hai chữ đồng bào mà chúng ta vẫn gọi một cách thân thương trìu mến “Bọc điều trăm họ thai chung, Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam...”. Dân gian Việt thường gắn liền “yêu nước với thương nòi”, “tình đồng bào với nghĩa ruột thịt” đặc trưng của nòi giống Việt. Chính từ ý nghĩa đồng bào nên trong cuộc sống thường nhật, việc ứng xử thể hiện qua cách xưng hô với người không phải trong gia tộc rất là thân tình chẳng khác gì bà con họ hàng cả. Đối với tha nhân, người Việt chúng ta cũng gọi là bà con cô bác, cũng xưng hô là ông bà, cô bác, chú thím, cậu mợ, anh chị em, là điều mà không thấy ở bất cứ một dân tộc khác ngoài Việt Nam. Đồng bào còn biểu trưng một ý niệm bình đẳng như nhau, giữa những con dân Việt không có gì khác biệt về đẳng cấp, quyền lợi.
Huyền thoại Rồng Tiên thể hiện một ý chí độc lập tự cường lấy sức mình là chính, không dựa vào thần linh cũng như tha nhân. Huyền tích Việt kể rằng mẹ Âu đem bỏ cái bọc ra ngoài đồng, biểu trưng cho nền văn hoá nông nghiệp nên dân gian ngày xưa, khi đẻ xong lót lá chuối cho con nằm dưới đất hàm nghĩa trong vòng tay của mẹ đất. Mặt khác nó cũng thể hiện ý niệm nhân chủ, lấy con người làm chính, dựa trên ý chí tự chủ, tự lực tự cường.
Huyền thoại Rồng Tiên kể rằng sau 7 ngày, trăm trứng nở ra trăm con trai, không cần phép màu của bất cứ thần linh nào đã thể hiện cao độ tâm linh Việt, sức sống Việt. Từ đó, chúng ta phải biết lấy sức mình là chính để đứng vững trên đôi chân của mình không dựa vào Thần linh, một sức mạnh bên ngoài như các dân tộc khác. Từ ý niệm đồng bào cùng chung một Mẹ, một nguồn cội huyết thống đã hình thành một ý thức dân tộc cao độ với lòng yêu nước gắn liền với tình thương nòi giống.
Hai ý niệm yêu nước thương nòi hoà quyện làm một, xuất phát từ lòng tự hào “Con Rồng cháu Tiên” đã tạo nên những kỳ tích oai hùng, đẹp như áng sử thi của thiên trường ca bất hủ Việt Nam. Hai chữ “Đồng bào”của Việt tộc còn biểu trưng một cộng đồng Bách Việt luôn đặt quyền lợi chung lên trên quyền lợi cá nhân, việc nước trước việc nhà, danh dự gia đình dòng họ trên lợi ích cá nhân hẹp hòi vị kỷ. Tuy vậy, truyền thống Việt cổ vẫn lấy con người làm gốc “Nhân bản”, tôn trọng cá nhân cũng như sự bình quyền nam nữ, không phân biệt giàu nghèo sang hèn.
Trong khi đó, Tây phương coi trọng tự do cá nhân thái quá không đếm xỉa gì tới tha nhân, tới lợi ích cộng đồng của nhân quần xã hội. Đó chính là ý nghĩa của đạo đức Việt cổ mà giới học giả Tây phương đều phải hết lời ca ngợi cái gọi là “Giá trị Phương Đông”, tinh hoa của nền văn minh đạo đức Việt Nam.
PHẠM TRẦN ANH
Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016
CỘI NGUỒN TRĂM HỌ
Thực
tế đã minh nhiên lý giải ý nghĩa của sự việc lạ thường là mẹ Tiên sinh ra trăm
trứng nở trăm con để rồi mỗi người con đi khắp nơi phát cỏ lập ấp trở thành một
trăm chi tộc Việt mà cổ sử Trung Quốc gọi là Bách Việt. Mỗi chi tộc do một
người con trai đứng đầu vâng lời bố Lạc đến một vùng đất mới khai phá đất đai,
phát cỏ mở đất để lập ấp sinh sống và lập ra một dòng họ. Chính từ đó mới có ý
niệm bách tính nghĩa là trăm họ của Việt tộc mà trước đây, sự nô dịch văn hoá
Hán khiến chúng ta cứ nghĩ là của Hán tộc. Đây chính là vấn đề cốt lõi ẩn chứa
trong huyền thoại mà tiền nhân ta thuở dựng nước đã gửi gấm cho thế hệ con cháu
Việt Nam ngàn sau.
Bách
Việt Ngọc Phả Truyền Thư viết: “Nhà thì
có gia phả cũng như nước thì có Quốc Sử. Phải ghi lại cho tinh tường để tổ quốc
ghi công. Non sông gấm vóc, đời này qua đời khác đến. Bên văn thì hiền lương,
bên võ thì lão luyện. Vị thế nước nhà thật rực rỡ. Đầu đuôi các thế hệ được ghi
chép, biên khảo để truyền về sau. Đầu tiên chỉ chép vị Tổ tối cao. Tổ quốc ta
được tính từ tổ xa xưa đó, vị tổ gốc rễ, vị tổ từ đất mẹ truyền đến chúng ta đã
hàng muôn nghìn đời giống như cây thì phải có gốc, nước thì phải có nguồn.
Trước mắt chúng ta hãy tính từ “Ba vua mở nước”. Vậy từ xa xưa, nước ta đã có các vua Hùng làm chủ nước non với bản đồ
hoa sen nở rộ, tính từ khi Kinh Dương Vương đứng đầu “Ba vua mở nước”.[1]
Theo
nhà nghiên cứu Bùi văn Nguyên thì bản “Bách Việt Ngọc Phả Truyền Thư” do trưởng
họ Nguyễn Đức ghi vào năm thứ tư đời Đinh Tiên Hoàng tức năm Tân Mùi 971 hiện
còn lưu giữ ở làng Vân Lôi Hà Tây mà xưa kia là làng Vân Nội thuộc phủ Thanh
Oai tỉnh Hà Nội. Từ đường họ Nguyễn gốc ở làng Vân Nội thờ từ Tổ Phục Hy gọi là
Đế Thiên và Thần Nông gọi là Đế Thần trở xuống cho đến các vua Hùng. Theo đương
kim Tộc trưởng ông Nguyễn văn Tằng thì đền thờ từ Kinh Dương Vương xuống tới
các vị vua triều Nguyễn. Trong từ đường có bức hoành phi và đôi câu đối do
triều Nguyễn tặng: “Quốc Ân Gia Khánh”. Đôi câu đối là “Muôn thuở phúc nhà lòng kính Tổ,
Chín trùng lộc nước áo vua ban”.
Sở dĩ
có họ Nguyễn gốc là vì tổ tiên ta lấy địa danh cái gò núi đất ở Vân Lôi xưa kia
là Phong Châu nơi họ Nguyễn sinh tụ. Chữ Nguyễn bên trái chữ phụ là cái gò đất,
bên phải là chữ nguyên nghĩa là đầu tiên. Trong khi đó, một nguồn thư tịch khác
cho biết là ngay từ thời cổ đại ở Cam Túc một tỉnh tiếp giáp với vùng Tam Giang
Bắc, trên đường thiên di của Việt tộc đã sinh tụ tại đây nên cổ thư đã nói tới
một nước Nguyễn (Rhuan). Về sau họ Nguyễn thiên cư dần xuống trung nguyên rồi
Hoa Nam và Việt Nam bây giờ.
Ngày
nay, các nhà nghiên cứu đều ghi nhận rằng Việt Nam có 3 dòng họ lớn là họ Trần,
họ Lê và họ Nguyễn là đông nhất vì theo các nhà nghiên cứu thì họ Nguyễn đã
thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt Nam. Mặt khác, đời
Trần vào thế kỷ 12 sau khi sắp xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh,
Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ Trần tên Lý nên bắt tất cả những ai mang
họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Chính vì vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn.[2]
Ngày nay, các nhà nghiên
cứu đều ghi nhận rằng Việt Nam có 3 dòng họ lớn là họ Nguyễn, họ Trần và họ Lê.
Trong 3 họ này, họ Nguyễn là đông nhất vì theo các nhà nghiên cứu thì họ Nguyễn
đã thiên cư dần từ Cam Túc, Thiểm Tây xuống Hoa Nam rồi Việt Nam. Mặt khác, đời
Trần vào thế kỷ 12 sau khi sắp xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh,
Thái sư Trần Thủ Độ lấy cớ ông tổ họ Trần tên Lý nên bắt tất cả những ai mang
họ Lý phải đổi ra họ Nguyễn. Chính vì vậy họ Nguyễn ngày càng đông hơn.
NHỮNG DÒNG
HỌ DỰNG NÊN CÁC TRIỀU ĐẠI TRONG LỊCH SỬ VIỆT.
Theo
nhà nghiên cứu Gia phả Dã Lan Nguyễn Đức Dụ thì Việt Nam có khoảng 140 dòng họ.
Khi nghiên cứu các dòng họ ở Việt Nam, người ta phải căn cứ vào lịch sử thiên
cư của Việt tộc, bao gồm các quốc gia Bách Việt và các triều đại trong lịch sử,
các chiến công lẫy lừng của các danh tướng, các anh hùng danh nhân văn hoá tựu
chung có thể liệt kê một số dòng họ chính nổi bật nhất như sau:
1. NHỮNG DÒNG HỌ DỰNG NÊN
CÁC TRIỀU ĐẠI
- Họ Hồng: Họ Hồng Bàng.
- Họ Lạc (Lị, Lộ, Ló ..): Họ của bố Lạc Long
Quân.
- Họ Âu (Ngu): Họ của mẹ Âu (Cơ).
- Họ Hùng: Hữu Hùng thị, được xem như họ của các
vua Hùng. Thời Hai bà Trưng cũng nhận là kế lại nghiệp Hùng nên lấy tên nước là
Hùng Lạc.
- Họ Triệu: Triệu Đà lên ngôi vua lấy hiệu là
Triệu vũ Vương thành lập quốc gia Việt. Về sau có vua Bà Triệu thị Trinh khởi
nghĩa năm 248 chống quân Ngô. Triệu Quang Phục lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt
Vương (549-571).
- Họ Trưng: Trưng Trắc, Trưng Nhị …
- Họ Khu: Năm 139, nhân dân Nhật Nam dưới sự
lãnh đạo của Khu Liên đánh chiếm huyện Tượng Lâm thành lập nước Lâm Ấp. Sử Tàu
chép là Lâm Ấp chính thức thành lập vào niên hiệu Sơ Bình 190-192.
- Họ Phạm: Phạm Văn, Phạm Phật làm vua nước Lâm
Ấp.
- Họ Lý: Nhà Tiền Lý từ năm 544 đến năm 602, Lý
Bí lên ngôi lấy hiệu là Lý Nam Đế, thành lập quốc gia Vạn Xuân. Lý Phật Tử
(571-673). Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ mở ra triều
đại nhà Lý dài 215 năm (1010-1215).
- Họ Mai: Mai Thúc Loan lên ngôi được suy tôn là
Mai Hắc Đế (722-725).
- Họ Phùng: Phùng Hưng được nhân dân suy tôn là
Bố Cái Đại Vương sau khi khởi nghĩa đánh bại quân Đường giành quyền tự chủ cho
nước nhà (783-791).
- Họ Khúc: Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ năm
906.
- Họ Dương: Dương Đình Nghệ chống quân Nam Hán.
- Họ Ngô: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán
(937-965).
- Họ Đinh: Đinh Bộ Lĩnh thống nhất nước nhà 967.
- Họ Lê: Lê Hoàn, Lê Lợi.
- Họ Trần: Trần Cảnh.
- Họ Hồ: Hồ Quý Ly, Hồ Thơm Nguyễn Huệ.
- Họ Mạc: Mạc Đăng Dung.
- Họ Trịnh: Trịnh Kiểm.
- Họ Nguyễn: Nguyễn Hoàng.
Sau
khi Mã Viện thắng Hai Bà Trưng đã tàn sát dân ta, chúng còn bắt hàng trăm “Cừ
Soái” đem sang Tàu, số những người còn lại mang họ này phải tìm cách đổi họ
thay tên nên dòng họ Trưng, họ Thi, họ Chử, họ Hùng, họ Thục hầu như không còn
nữa.
2.
NHỮNG DÒNG HỌ LẬP NÊN
CHIẾN CÔNG HIỂN HÁCH TRONG LỊCH SỬ:
- Họ Chu: Năm 158, Chu Đạt lãnh đạo nhân dân Cửu
Chân nổi lên đánh chiếm Nhật Nam. Năm 163, Chu Cái cùng với -- Hồ Lan lãnh đạo
nhân dân nổi lên đánh chiếm huyện Quế Dương, Thương Ngô.
- Họ Bốc, họ Hồ, họ Phan: Từ 160-180, nhân dân
Thương Ngô dưới sự lãnh đạo của Bốc Dương, Phan Hồng, Lý Nghiêu, Hồ Lan, Chu
Cái nổi lên đánh chiếm Thương Ngô.
- Họ Lương: Tháng giêng năm 178, anh hùng dân
tộc Lương Long lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa của nhân dân các quận Hợp Phố,
Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam nổi lên đánh chiếm quận huyện, làm chủ đất nước
được 4 năm.
- Họ Ninh: Ninh Trường Châu nổi lên chiếm Uất
Lâm và Thủy An Quảng Tây bây giờ.
- Họ Lý: Lý Trường Xuân và Lý Tự Tiên khởi nghĩa
chống giặc Đường.
- Họ Dương: Năm 806, Dương Thanh nổi dậy giết Lý
Tượng Cổ và hơn 1 ngàn quân Đường.
Ngoài
những dòng họ Việt ở Việt Nam bây giờ, chúng ta còn phải kể tới những dòng họ
Việt cổ ở Hoa Nam mà sử sách Trung Quốc gọi là Bách Việt. Từ trước đến nay, các
sử gia Việt Nam do thiếu tài liệu nên thường cho rằng phần lớn họ Việt đều là họ
Tàu, từ Trung Quốc xuống Việt Nam. Sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm “Việt
Nam Sử Lược” viết về dòng dõi Lý Nam Đế như sau: “Lý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu, tổ tiên đời
Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu, đến lúc bấy giờ đã là 7 đời, thành
ra người bản xứ …” hoặc “Nguyên họ Hồ
là dòng dòng dõi nhà Ngu bên Tàu nên đặt quốc hiệu là “Đại Ngu”.
Đặc
biệt là các nhà sử học Mác Lê viết sử theo nghị quyết của đảng CSVN nên viết
rằng nước ta chỉ nằm trong phạm vi Bắc và Trung VN hiện nay và cũng chép rằng
Lê Quý Ly, cháu 4 đời của Hồ Liêm, dòng dõi Hồ Hưng Dật người Triết Giang bên
Tàu. Gần đây, Lê Trung Hoa trong “Họ và
tên người Việt Nam” vẫn viết theo sách sử cũ: “Phần lớn các họ của người Kinh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Trần,
Lê, Lý, Đỗ … Trong hàng nghìn năm Bắc thuộc và tiếp tục sau đó, nhiều quan lại
và thường dân Trung Quốc đã sang định cư ở nước ta, rồi sinh con đẻ cháu, dần
dần trở thành người Việt. Xin nêu ra một vài dẫn chứng như Trần Lãm, cha nuôi
của Đinh Bộ Lĩnh, vốn là con ông Trần Công Đức, quán ở Trấn Quảng Đông, từ
Trung Hoa sang hùng cứ ở Bố Hải Khẩu, nay là xã Kỳ Bố, huyện Vũ Tiên, phũ Kiến
Xương tỉnh Nam Định, mà tự xưng là Trần Minh Công…”.
Ngay
cả họ Nguyễn, một họ lớn nhất của người Việt chiếm 38% thì Lê Trung Hoa cũng
cho có nguồn gốc Trung Hoa vì: “Đời Tấn,
bên Trung Quốc có Nguyễn Tịch nổi danh với điển tích Mắt xanh. Đồng thời với
Nguyễn Tịch có Nguyễn Hàm, một nhà thơ nổi tiếng!”. Thực ra, tất cả đều là
họ của người “Trung Quốc gốc Việt cổ” ở Hoa Nam lãnh thổ Trung Quốc bây giờ.
Ông Tổ nhà Lý, Lý Công Uẩn là chi Hmong-Mien của Bách Việt, nhà Trần, nhà Hồ,
Nhà Tây Sơn đều là người Mân Việt (Min Yue) ở Phúc Kiến, Triết Giang nên đều là
người Việt trong đại chủng Bách Việt.
3. NHỮNG
HỌ VIỆT CỔ Ở ĐÔNG VÀ NAM TRUNG QUỐC
Ngày
nay sự thật lịch sử đã được phục hồi sau hàng ngàn năm bị che phủ bởi lý của kẻ
mạnh. Sự thật lịch sử đã xác nhận là lãnh thổ của nước Xích Quy rồi Văn Lang
của Việt tộc thời xưa còn ở lưu vực 2 con sông Hoàng Hà Dương Tử của Trung Quốc
bây giờ. Suốt dòng lịch sử Việt, người Việt cổ đã phải thiên cư rời bỏ địa bàn
sinh tụ trước kẻ thù Hán tộc xâm lăng phương Bắc chạy xuống phương Nam. Số còn
lại trải qua hàng ngàn năm thống trị của Hán tộc với chủ trương đồng hoá, buộc
họ phải theo phong tục tập quán Hán. Thế nhưng, trải qua hàng ngàn năm bị nô
dịch nhưng họ vẫn giữ bản sắc Việt nên tuy sinh hoạt giống như người Hán nhưng
không bao giờ hoá thành người Hán được.
Chính
vì vậy, tuy cùng gọi là người Trung Quốc nhưng người Nam TQ và người Bắc TQ
khác nhau hoàn toàn từ con người đến đời sống văn hoá, phong tục tập quán.
Người Miền Nam Trung Quốc vẫn gọi nhau bằng họ như ông Trần, ông Lý… chứ không
gọi bằng tên chính để nhận biết, trân trọng cội nguồn Việt cổ của tổ tiên họ.
Như vậy, người dân ở miền Nam TQ hiện nay là người Trung Quốc gốc Việt cổ nên
họ của dân Hoa Đông, Hoa Nam chính là họ Việt như họ Lý, Lưu, Trương, Mai, Lâm,
Trịnh ... Ngay từ thời Chu khi Hồ Công lấy công chúa Chu, vua Chu cắt đất Trần
phong cho Hồ Công. Hồ Công lấy đất phong lập ra triều Trần của dòng họ Trần ở
lưu vực phía Đông sông Dương Tử.
Sử
sách Việt ghi tổ tiên của Lê Quý Ly và Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm vốn họ Hồ
ở đất Trần là người Việt cổ. Hồ Quý Ly đặt tên nước là “Đại Ngu” hàm nghĩa là
dòng dõi vua Thuấn họ Ngu. Hồ Quý Ly nuôi tham vọng mở ra triều đại thanh bình
thịnh trị như thời Đường Ngu tức Nghiêu Thuấn thuở xưa nên mới đặt tên nước là
Đại Ngu. Theo các nhà nghiên cứu thì Ngu về sau trại âm ra là Âu, Ngu Cơ=>
(Ou Cơ) => Âu Cơ. Chữ Cơ có nghĩa là người con gái xinh đẹp nên truyền
thuyết Rồng Tiên với mẹ Âu Cơ nghĩa là
mẹ Âu xinh đẹp như tiên.
Trong
suốt trường kỳ lịch sử, Bách Việt ở Nam Trung Quốc luôn vùng lên giành lại đất
Tổ Trung Nguyên mỗi khi Hán tộc suy yếu. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, các quốc gia
Bách Việt của con Rồng cháu Tiên như Việt, Ngô rồi Sở nhiều lần đánh thắng các
nước lên ngôi Bá chủ Trung nguyên. Thế nhưng do ở rải rác khắp trung nguyên,
giới lãnh đạo vì quyền lợi cá nhân dòng họ đã gây chiến tranh chém giết lẫn
nhau để rồi cuối cùng bị đế quốc Tần tiêu diệt. Khi triều Tần xụp đổ, Hạng Võ
người Sở Việt cùng Lưu Bang người Hán quyết chiến một mất một còn giành quyền
làm chủ Trung nguyên. Hạng Võ ỷ tài “Lực bạt sơn hề khí cái thế”, anh hùng khí đoản
nên kiêu căng không nghe lời của quân sư Phạm Tăng nên bị Lưu Bang vây khốn
phải tự sát. Thế là chấm dứt thời kỳ “Hán Sở Tranh Hùng” nên Trung nguyên lại
về tay Hán tộc để lại bao thương tiếc cho người dân Sở Việt ở Hoa Nam.
Kẻ
thù Hán tộc phương Bắc vốn là một tộc người du mục đời sống buộc phải có tổ
chức, đoàn kết, sức mạnh võ biền, rất thạo việc chiến tranh, thiên về lý trí
nên tình cảm lạnh lùng đến mức khô cằn. Trong khi đó, các nước Bách Việt ở
phương Nam định cư rải rác khắp Trung nguyên là cư dân nông nghiệp đời sống
thiên về tình cảm, thịnh về văn hoá nhưng kém về võ lực nên Hán tộc thắng một
cách dễ dàng. Mặt khác, các quốc gia Bách Việt ở tản mạn khắp Trung nguyên nên
vì quyền lợi quốc gia, xem nhẹ tình đồng chủng nên không biết đoàn kết để thống
nhất sức mạnh mà thường đánh lẫn nhau để giành ngôi vị thủ lĩnh. Thời Xuân Thu
Chiến Quốc với sự hưng thịnh của Ngô, Việt, Sở vùng lên làm bá chủ Trung Quốc
một thời gian, sau đó Ngô lại đánh Việt, Việt diệt Ngô rồi Sở diệt Việt để rồi
cuối cùng lại bị Hán tộc thống trị như cũ.
Cuối
đời Đường, tình hình Trung Quốc tam phân ngũ liệt nên sử sách gọi thời kỳ này
là thời Ngũ đại Thập quốc. Ở miền Bắc gồm 5 triều đại nối tiếp là: Hậu Lương,
Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu được xem là chính thống của Trung Quốc.
Trong khi đó ở miền Nam, cư dân Hoa Nam gốc Việt nổi lên giành độc lập và thành
lập 10 nước Bách Việt gồm:
- Nước Ngô do Dương Hành Mật lập ra ở An Huy.
- Nước Thục do Vương Kiến thành lập ở Tứ Xuyên.
- Ngô Việt do Tiền Cù thành lập ở Triết Giang.
- Sở do Mã Ân lập ra ở Hồ Nam.
- Mân do Vương Thẩm thành lập ở Phúc Kiến của
Mân Việt.
- Nam Hán do Lưu Ẩn thành lập ở Quảng Đông. Thực
ra tên nước lúc ban đầu lấy tên rặng núi Ngũ Lĩnh ở Hoa Nam là Đại Việt đặt tên
nước, rồi về sau đổi là Nam Hán vì ở phía Nam sông Hán.
- Nam Bình do Cao Bảo Dung thành lập ở Hồ Bắc.
- Hậu Thục do Mạnh Trí thành lập ở Tứ Xuyên.
- Nam Đường do Lý Thắng thành lập ở Giang Tô.
- Bắc Hán do Lưu Sùng thành lập ở vùng Sơn Tây
phía Bắc sông Hán.
Thực
tế này được nhà Trung Hoa học, học giả H. Wiens nhận xét một thực trạng đau
lòng là “Bao nhiêu cuộc trổi dậy của Bách
Việt đều thất bại vì người Lĩnh Nam tự phá lẫn nhau…”. Lịch sử đã chứng
minh khi các chi Việt thuộc các nước Ngô, Việt, Sở bỏ Hoa Nam chạy xuống Bắc và
Trung Việt Nam hợp nhất với Lạc Việt và các chi Việt khác định cư tại đây từ
trước tạo nên một sức mạnh tổng lực nên đã đánh thắng bao cuộc xâm lược của Hán
tộc để tồn tại mãi tới ngày nay.
Thế
là từ huyền thoại đến hiện thực lịch sử đã minh nhiên xác định Việt tộc bao gồm
rất nhiều chi tộc như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Liêu
Việt, Quỳ Việt, Điền Việt, Kiềm Việt, La Việt... Sử gia Tư Mã Thiên trong bộ Sử
Ký đã viết: “Nước Sở, nước Việt đều là
dân Việt. Dân nước Sở họ Mị, dân nước Việt họ Tự (Từ)”. Nhà nghiên cứu
Tscheppe ghi nhận Phù Sai, Hạp Lư, Câu Tiễn đều là họ Việt. Người Mường là
người Việt cổ sơ còn giữ được một vài họ cổ là họ Ai, họ Kem, họ Khói, họ Sa,
họ Xạ. Hiện nay đồng bào Mường còn giữ một số họ như Bạch, Bùi, Cao, Đinh, Hà,
Hoàng, Lê, Phạm, Quách, Trịnh Xa trong đó Đinh, Quách, Bạch, Hoàng là nhiều
nhất.
Cổ sử
Trung Quốc cho biết Hoàng Đế Li Vưu, cổ thiên tử là thủ lĩnh của Tam Miêu chính
là đồng bào Hmong Mien gồm đồng bào Dao và Miêu (Mèo) trước đây một thời làm
chủ Trung nguyên. Tất cả đồng bào thiểư số đều là những chi tộc Việt, là anh em
cùng chung một bào thai của mẹ Âu nên chúng ta vẫn gọi nhau một cách thân
thương là đồng bào, là bà con cô bác, chú dì, anh chị…
[1]. Theo “Bách Việt Ngọc
phả Truyền thư” thì sau chiến thắng lẫy lừng Đống Đa đẩy lùi 20 vạn quân Thanh
xâm lược vị Hoàng Đế anh minh lỗi lạc của dân
tộc đã thân hành đến nói chuyện thân mật với các vị bô lão, hương chức
và dân làng Vân Lôi.
[2] Bùi Văn Nguyên: Việt Nam
và Côi Nguồn Trăm Họ, NXB Khoa Học Xã Hội 2001 tr 261.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



